Bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm trùng cấp tính ở cổ họng và đường hô hấp trên (mũi, xoang cạnh mũi, đường mũi và hầu họng). Tác nhân gây ra bệnh là ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu tiết ra tác động đến tim, thận và hệ thần kinh gây nhiễm trùng, nhiễm độc toàn thân, khiến người bệnh có nguy cơ tử vong cao. Theo WHO, bạch hầu là bệnh có tỷ lệ tử vong từ 5 – 10%, trong đó tỷ lệ tử vong ở trẻ nhỏ, trẻ thanh thiếu niên là cao nhất. Vậy bạch hầu là bệnh gì? Mức độ nguy hiểm và cách phòng ngừa bệnh bạch hầu như thế nào?
1. Bệnh bạch hầu là gì?
Bạch hầu là bệnh nhiễm trùng cấp tính do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Đặc điểm lâm sàng là sự xuất hiện giả mạc dày dai, trắng ngà, bám chặt và lan nhanh bao phủ toàn bộ vòm họng, mũi, tuyến hạnh nhân, thanh quản. Bệnh còn có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác (kết mạc mắt, bộ phận sinh dục,…).

Vi khuẩn bạch hầu trú ngụ ở các giả mạc tiết ra ngoại độc tố khiến người bệnh bị suy hô hấp và tuần hoàn, liệt màn khẩu cái làm giọng nói bị thay đổi, sặc và khó nuốt khi ăn uống, lú lẫn. Trường hợp nặng người bệnh rơi vào hôn mê và tử vong. Một số trường hợp gây biến chứng viêm cơ tim hay viêm dây thần kinh ngoại biên.
Vi khuẩn bạch hầu rất dễ lây lan. Chúng lây theo đường hô hấp khi nói chuyện, hắt hơi, ho… giọt bắn có chứa vi khuẩn hòa vào không khí. Người khỏe mạnh hít phải, nếu cơ thể chưa có miễn dịch chống vi khuẩn bạch hầu sẽ mắc bệnh. Ngoài ra, vi khuẩn bạch hầu cũng có thể lây nhiễm gián tiếp khi tiếp xúc với các vật dụng có dính chất bài tiết hoặc giọt bắn có chứa mầm bệnh. Thời gian ủ bệnh trong khoảng 2 – 5 ngày hoặc hơn kể từ khi nhiễm vi khuẩn bạch hầu.

2. Phân loại bệnh bạch hầu
2.1 Bạch hầu cổ điển
Bệnh bạch hầu cổ điển là loại bạch hầu phổ biến nhất. Bệnh ảnh hưởng đến toàn bộ vùng hô hấp trên bao gồm mũi, cổ họng, amidan và thanh quản. Các triệu chứng bệnh có thể khác nhau tùy thuộc vào vị trí bị ảnh hưởng trong cơ thể.
Bạch hầu mũi
Vi khuẩn làm tổ và tạo màng trắng chủ yếu trong hốc mũi. Triệu chứng chính là chảy nước mũi thường dễ nhầm với các bệnh khác
Bạch hầu họng – Amidan
Bạch hầu họng – Amidan làm người bệnh mệt mỏi, ăn kém, đau cổ họng bởi giả mạc dày và dai trắng ngà, bám chắc vào amidan hoặc có thể lan rộng bao phủ cả vùng vòm họng. Trong một số trường hợp bệnh diễn tiến nặng khiến người bệnh xuất hiện các hạch cổ và sưng nề vùng dưới hàm. Trường hợp nhiễm độc nặng hơn người bệnh sẽ tái mặt, mạch nhanh dần dần đờ đẫn, hôn mê. Nếu không được điều trị tích cực có thể tử vong nhanh chỉ trong vòng 6-10 ngày.
Bạch hầu thanh quản
Bệnh bạch hầu thanh quản thường xuất hiện với các giả mạc tại thanh quản hoặc từ vòm họng lan xuống dưới. Bệnh tiến triển tranh và đặc biệt nguy hiểm. Nếu không được can thiệp và điều trị kịp thời, giả mạc này có thể phát triển làm tắc đường thở khiến người bệnh suy hô hấp và rơi vào tử vong nhanh chóng.
Bạch hầu ác tính
Bệnh bạch hầu ác tính (còn gọi là bạch hầu cấp) thường xuất hiện trong giai đoạn sớm của bệnh, thường từ ngày 3-7 kể từ khi khởi phát. Người bệnh sốt cao từ 39-40 độ C vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc nặng. Giả mạc trắng ngà lan rộng, hạch cổ sưng to làm biến dạng cổ dẫn đến hình cổ bạnh.
2.2 Bạch hầu ngoài da
Đây là loại bạch hầu hiếm gặp nhất. Bệnh đặc trưng bởi phát ban da, xuất hiện vết loét hoặc mụn nước ở bất kỳ đâu trên cơ thể. Bệnh bạch hầu da phổ biến hơn ở các quốc gia thuộc vùng khí hậu nhiệt đới hoặc những nơi có mật độ dân cư đông đúc, điều kiện sống và vệ sinh chưa được tốt.
3. Sinh bệnh học
Vi khuẩn bạch hầu xâm nhập qua đường mũi, miệng rồi định vị ở niêm mạc đường hô hấp trên. Sau thời gian ủ bệnh 2 – 4 ngày, độc tố được sản xuất, bám vào màng tế bào rồi xuyên qua màng đi vào máu và phát tán đến các cơ quan.
3.1 Độc tố bạch hầu là gì?
Độc tố là một protein cấu tạo bởi một chuỗi peptide. Chúng có trọng lượng phân tử khoảng 62.000 daltons, có 2 thành phần A và B. Thành phần B sẽ kết dính với thụ thể ở màng tế bào, sau đó thành phần A chuyển vào bên trong tế bào và có khả năng tiêu huỷ tế bào, làm đình trệ tổng hợp protein của tế bào. Ở cơ tim bị nhiễm độc, nồng độ carnitine giảm và điều này có liên quan đến bệnh lý của cơ tim.
Độc tố có thể gây tổn thương bất kỳ cơ quan nào hay mô nào. Nhưng tổn thương chủ yếu là tim, hệ thần kinh và thận. Một lượng rất nhỏ độc tố có thể gây hoại tử ngoài da. Kháng độc tố bạch hầu có thể trung hoà độc tố trong máu hoặc khi độc tố chưa kịp hấp thụ vào tế bào. Tuy nhiên kháng độc tố không có hiệu quả khi độc tố đã ngấm vào trong tế bào.
3.2 Màng giả bạch hầu
Hoại tử mô rất dữ dội tại nơi vi khuẩn khu trú phát triển. Sự đáp ứng viêm tại chỗ kết hợp với sự hoại tử mô tạo thành một mảng chất tiết mà trên lâm sàng được gọi là giả mạc hay màng giả. Màng này có khả năng lan nhanh. Khi độc tố sản xuất nhiều thì vùng viêm càng lan rộng và sâu. Màng giả bám rất chắc vào niêm mạc. Màng bao gồm: các chất viêm, tế bào hoại tứ, fibrin, hồng cầu, bạch cầu, tế bào biểu bì, tế bào mủ. Khi bệnh thoái lui, màng này lành tự nhiên trong giai đoạn bệnh hồi phục. Vi khuẩn bạch hầu tìm thấy rất nhiều ở màng giả, nhưng thông thường không tìm thấy trong máu và các cơ quan nội tạng.
4. Triệu chứng lâm sàng bệnh bạch hầu
Biểu hiện lâm sàng của bệnh bạch hầu tuỳ thuộc vào biểu hiện nhiễm trùng tại chỗ, tình trạng miễn dịch của bệnh nhân và mức độ lan tràn độc tố trong máu.
4.1 Bạch hầu mũi
Như là một trường hợp viêm đường hô hấp, đặc biệt có chảy mũi nước và triệu chứng toàn thân nghèo nàn. Dần dần chất dịch mũi trở nên nhầy quánh và đôi khi có máu và làm tổn thương bờ môi trên, một mùi hôi có thể cảm nhận được. Nếu thăm khám cẩn thận sẽ thấy một màng trắng trong hốc mũi. Sự hấp thu độc tố từ từ và các triệu chứng toàn thân nghèo nàn nên thường làm chậm chẩn đoán.
4.2 Bạch hầu họng – Amidan
Thường gặp hơn cả, chiếm khoảng 1/2 đến 2/3 trường hợp. Các triệu chứng chính như chán ăn, bất an, sốt nhẹ, nhiệt độ thường trong khoảng 38 đến 38,5 độ C kèm viêm họng. Trong vòng 1- 2 ngày màng giả xuất hiện. Màng giả ban đầu mỏng, màu trắng ngà, lan dần từ a mi đan đến vòm khẩu cái. Màng giả dính với niêm mạc bên dưới và phủ mặt vòm hầu và thành sau họng. Có khi màng giả lan xuống thanh khí quản. Nếu bóc tách màng giả dễ gây chảy máu.
Hạch bạch huyết vùng cổ phản ứng có khi phù nề vùng mô mềm của cổ rất trầm trọng tạo thành triệu chứng được gọi là dấu cổ bò “ Bull neck”. Đây là triệu chứng rất nặng nề. Có khi gây xuất huyết dưới da, xuất huyết tiêu hoá và tiểu ra máu. Tình trạng này kéo dài trong vài ngày, nhanh chóng chuyển sang nhiễm độc năng và tử vong.

Tiến trình của bệnh bạch hầu tuỳ thuộc vào diện tích của màng giả và lượng độc tố sản xuất. Một số trường hợp có suy hô hấp và tuần hoàn, tỷ lệ mạch – nhiệt độ gia tăng không tương ứng. Khẩu cái có thể bị liệt, làm thay đổi giọng nói, ăn uống sặc và khó nuốt, lú lẫn, hôn mê và chết trong vòng 7- 10 ngày. Một số trường hợp hồi phục chậm, có biến chứng viêm cơ tim hay viêm dây thần kinh ngoại biên.
4.3 Bạch hầu thanh quản
Thông thường sự lan xuống của màng giả từ họng. Bệnh nhân khó thở dữ dội, tiếng rít thanh quản, khàn giọng. Cần phân biệt với các trường hợp viêm thanh quản do các nguyên nhân khác. Phản xạ co kéo trên xương ức, thượng đòn và khoảng gian sườn rất dữ dội. Có khi có sự tắt thanh quản và có thể chết nếu không được khai khí quản kịp thời. Thỉnh thoảng xuất hiện khó thở đột ngột do tắt nghẽn vì một phần màng giả bóc ra bít đường thở gây tử vong.
5. Chẩn đoán bệnh bạch hầu
Cần chẩn đoán sớm và nhanh, có thể dựa vào kinh nghiệm lâm sàng là chính. Mọi sự trì hoãn trong điều trị sẽ gây ra nhiều nguy cơ cho bệnh nhân.
Muốn chẩn đoán sớm cần dựa vào các yếu tố sau:
– Bệnh nhân có tiếp xúc trước đó với nguồn bệnh, tiền sử chủng ngừa không rõ ràng
– Có các dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ như: Sốt nhẹ, ho, và đau họng, giọng khàn
– Khám họng có ít giả mạc ở một hoặc 2 bên A mi đan
Muốn chẩn đoán xác định phải dựa vào soi giả mạc và nuôi cấy vi khuẩn với sự hiện diện của Corynebacterium diphtheriae.
Bạch hầu mũi cần phân biệt với viêm mũi, viêm mũi dị ứng…
Bạch hầu họng phân biệt với viêm họng do liên cầu tan huyết nhóm A hoặc nhiễm trùng tăng bạch cầu đơn nhân, viêm amiđan mủ, nhiễm nấm Candida Albican ở vùng miệng…vv
Bạch hầu thanh quản phải phân biệt với khó thở thanh quản do các nguyên nhân như dị vật đường hô hấp, áp xe chung quanh hoặc thành sau họng.
Về lâm sàng khi nghi ngờ bạch hầu hoặc chưa loại trừ một cách chắc chắn, thì do tính chất nguy hiểm của độc tố, cho phép thái độ điều trị như một bạch hầu thực sự.
6. Mức độ nguy hiểm của biến chứng bệnh bạch hầu
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), các biến chứng bệnh bạch hầu vô cùng nguy hiểm. Nếu không xử trí và điều trị kịp thời khi phát hiện những biểu hiện của bệnh thì có thể dẫn đến tử vong rất nhanh chỉ trong 6-10 ngày. Tỷ lệ tử vong do bệnh trung bình của bệnh khoảng 5 – 10%. Có 2 loại biến chứng quan trọng: Biến chứng do màng giả lan rộng và biến chứng do độc tố gây nên.
6.1 Biến chứng do màng giả lan rộng
Hầu hết các triệu chứng bệnh bạch hầu chủ yếu là gây viêm họng, đau họng, tổn thương thanh quản. Vi khuẩn bạch hầu sẽ tạo lớp giả mạc màu trắng ngà do các mô tế bào bị viêm tạo ra. Chúng bám chặt vào trong vòm họng. Nếu không điều trị, mảng giả mạc này sẽ phát triển và lan rộng lấp kín làm tắc nghẽn đường hô hấp gây khó thở, ngạt thở, suy hô hấp cho người bệnh. Cấp cứu không kịp thời bệnh nhân sẽ tử vong nhanh chóng.
6.2 Biến chứng do độc tố
Viêm cơ tim
Viêm cơ tim là một trong những biến chứng đặc biệt nghiêm trọng của bệnh bạch hầu. Ngoại độc tố bạch hầu tiết ra làm ảnh hưởng đến tim. Chúng gây ra rối loạn nhịp tim và có thể tử vong đột ngột do trụy tim. Biến chứng viêm cơ tim thường xảy ra khi người bệnh ở giai đoạn toàn phát hoặc vài tuần sau khi khỏi bệnh. Trường hợp viêm cơ tim xuất hiện vào những ngày đầu của bệnh, người bệnh có tiên lượng xấu, tỷ lệ tử vong cao. Ngoài ra, viêm màng bao tim (gây đau nhói ở ngực), tràn dịch màng bao tim cũng xuất hiện đồng thời khi người bệnh gặp biến chứng viêm cơ tim.
Tổn thương các dây thần kinh dẫn đến tê liệt
Độc tố bạch hầu rất mạnh, chúng còn làm tổn thương các dây thần kinh dẫn đến tê liệt. Biến chứng này có thể xảy ra khoảng vài tuần sau khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của bệnh bạch hầu.
Liệt màn khẩu cái (màn hầu)
Liệt màn khẩu cái thường xuất hiện vào tuần thứ 3 của bệnh. Đây cũng là một trong những biến chứng khác có thể gặp khi mắc bạch hầu.
Bàng quang mất kiểm soát
Một biến chứng bệnh bạch hầu khác có thể xảy ra với người mắc bệnh là vấn đề liên quan đến dây thần kinh kiểm soát bàng quang (rối loạn chức năng thần kinh bàng quang). Khi dây thần kinh ở vị trí này bị tổn thương, người bệnh sẽ không thể kiểm soát được hoạt động của bàng quang khiến đi tiểu thường xuyên, tiểu rắt,… Các vấn đề liên quan đến kiểm soát bàng quang thường phát triển trước khi cơ hoàng bị tê liệt. Đây cũng có thể được xem là dấu hiệu cảnh báo sớm người bệnh có nguy cơ cao gặp các vấn đề nghiêm trọng về hệ hô hấp.
Cơ hoành bị tê liệt
Cơ hoành được miêu tả là một cơ hình vòm dày ngăn cách phần ngực với bụng. Cơ hoành có chức năng rất quan trọng trong hệ hô hấp giúp duy trì sự sống. Tuy nhiên, với những người mắc bạch hầu, cơ hoành bị tê liệt một cách đột ngột với thời gian kéo dài khiến người bệnh có nguy cơ tử vong cao.
Biến chứng tê liệt cơ hoành thường xuất hiện vài tuần sau khi có triệu chứng mắc bệnh bạch hầu. Biến chứng này có thể xảy ra ngay cả khi người bệnh đã phục hồi sau nhiễm trùng ban đầu hoặc xuất hiện sau các biến chứng nhiễm trùng phổi, viêm cơ tim,…
7. Cách phòng ngừa bệnh bạch hầu
Bệnh bạch hầu có tốc độ lây lan rất nhanh, biến chứng nguy hiểm và tỷ lệ tử vong cao. Do đó, dù là trẻ em hay người lớn cũng cần tiêm vắc xin đủ liều, đúng lịch. Đồng thời chúng ta cần đến bệnh viện điều trị ngay nếu phát hiện những triệu chứng bệnh, tránh những biến chứng nguy hiểm và làm làm lây lan mầm bệnh ra cộng đồng
7.1 Người dân cần chú ý về lối sống
Giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng. Tạo thói quen che miệng khi hắt hơi hoặc ho. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc nghi ngờ nhiễm bệnh.
Đảm bảo không gian nhà ở, trường học, các nơi công cộng sạch sẽ, thông thoáng và có đủ ánh sáng.
Với những người xuất hiện các triệu chứng mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu cần được cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được thăm khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Người dân sống trong vùng có ổ dịch cần chấp hành nghiêm túc việc khám, chữa bệnh cũng như các chỉ định phòng bệnh của cơ sở y tế.
7.2 Tiêm vắc xin là cách phòng ngừa bạch hầu hiệu quả nhất
Bệnh bạch hầu đã có thuốc điều trị và hoàn toàn có thể được phòng ngừa hiệu quả bằng việc tiêm vắc xin. Hiện nay, tại Việt Nam chưa có vắc xin đơn phòng bệnh bạch hầu. Tuy nhiên người bệnh có thể tiêm các loại vắc xin phối hợp trong đó có thành phần kháng nguyên bạch hầu. Chúng vừa phòng được bệnh bạch hầu vừa phòng được nhiều bệnh truyền nhiễm khác chỉ trong một mũi tiêm.
Phụ huynh cần cho con tiêm vắc xin phòng bệnh bạch hầu theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Thời điểm bắt đầu tiêm chủng mở rộng lúc trẻ 2, 3, 4 tháng tuổi. Sau đó thực hiện các mũi tiêm nhắc lúc trẻ 16-18 tháng tuổi, 4-7 tuổi, 9-15 tuổi. Khả năng bảo vệ của vắc xin bạch hầu suy giảm theo thời gian, việc tiêm mũi nhắc là rất cần thiết.
Ngoài ra, những đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh như phụ nữ trước hoặc đang mang thai, người già trên 50 tuổi, người mắc bệnh mạn tính… cũng cần tiêm đầy đủ các mũi vắc xin phòng ngừa căn bệnh nguy hiểm này.

Vắc xin phối hợp phòng bệnh
Vắc xin phòng bạch hầu hiện có trong tất cả các vắc xin phối hợp. Ví dụ như vắc xin phối hợp 3 trong 1, 4 trong 1, 5 trong 1 hoặc 6 trong 1. Trong đó, vắc xin 5 trong 1 và 6 trong 1 được chỉ định tiêm chủng cho trẻ từ 6 tuần tuổi đến 2 tuổi. Vắc xin 4 trong 1 được chỉ định tiêm chủng cho trẻ từ 2 tháng đến dưới 7 tuổi. Vắc xin 3 trong 1 được chỉ định tiêm chủng cho trẻ từ 4 tuổi trở lên và người lớn. Và vắc xin phòng ngừa bạch hầu, uốn ván có thể tiêm cho trẻ từ 7 tuổi đến người lớn.
8. Điều trị bệnh bạch hầu
8.1 Điều trị kháng độc tố bằng SAD
SAD (Serum anti diphterique) là chất kháng độc tố bạch hầu được điều chế từ huyết thanh ngựa. Đây là một protein lạ đối với cơ thể người, vì vậy trước khi sử dụng phải thử test ở kết mạc mắt hoặc tiêm trong da. Khi dùng SAD phải chuẩn bị sẵn Adrenalin để phòng sốc phản vệ.
Đối với SAD có độ tinh khiết cao có thể pha với dung dịch muối đẳng trương truyền tĩnh mạch trong vòng 30 – 60 phút. Tuy nhiên hiện nay SAD có độ tinh khiết kém hơn nên dùng đường tiêm bắp hay đường dưới da.
Liều kháng độc tố được cho tuỳ thuộc vào thể lâm sàng nhẹ, nặng và thời gian từ khi bị bệnh đến khi cho SAD.
– Tổn thương khu trú ở da: 20.000 – 40.000 đơn vị SAD
– Bạch hầu mũi, họng < 48 giờ: 20.000 – 40.000 đơn vị SAD
– Bạch hầu họng, thanh quản: 40.000 – 60.000 đơn vị SAD
– Bệnh lan toả thời gian chẩn đoán > 72 giờ: 80000 – 100.000 đơn vị SAD
– Bạch hầu ác tính + có triệu chứng “cổ bò”: 80.000 -100.000 đơn vị SAD
8.2 Điều trị loại bỏ vi khuẩn bằng kháng sinh
Kháng sinh không thể điều trị thay thế kháng độc tố nhưng rất cần thiết để ngăn chặn sự sản xuất tiếp tục độc tố của vi khuẩn.
Chỉ có Penicilline và Erythromycine là 2 loại kháng sinh được khuyến cáo dùng.
Liều dùng như sau:
– Erythromycine cho theo đường uống với liều 40 – 50 mg/kg/ngày, liều tối đa 2g/ngày.
– Penicillin G tiêm bắp hoặc tĩnh mạch với liều 100.000 – 150.000 đơn vị /Kg /ngày chia 4 lần. Hoặc cho Procaine Penicillin với liều 25.000 – 50.000 đơn vị /Kg /ngày chia 2 lần theo đường tiêm bắp.
Liệu trình điều trị 14 ngày.
8.3 Điều trị hỗ trợ
Nghỉ ngơi, bù nước điện giải, khai khí quản và dùng prednisone. Đối với Prednisolone có chống chỉ định khi bệnh nhân biểu hiện biến chứng viêm cơ tim.
Chủng ngừa là cần thiết sau thời kỳ hồi phục vì một nửa trường hợp sau khi hồi phục không có được miễn dịch với bệnh bạch hầu và tiếp tục có khả năng bị tái nhiễm.
9. Tiên lượng của bệnh bạch hầu
Trước khi sử dụng kháng độc tố và kháng sinh đặc hiệu, tỷ lệ tử vong do bạch hầu là 30% – 50%. Chết hầu hết ở trẻ dưới 4 tuổi là do tắt đường thở. Hiện nay tỷ lệ tử vong dưới từ 5 – 10%. Nói chung tiên lượng của bệnh tuỳ thuộc độc lực vi khuẩn, tổn thương tại chỗ, tính lan rộng của màng giả, tuổi bệnh nhân, tính miễn dịch của người bệnh, chẩn đoán sớm, chính xác, điều trị sớm với SAD, theo dõi và xử lý các biến chứng một cách thích đáng cẩn thận đầy đủ.
Bác sĩ Nguyễn Văn Luân